Kiến thức hội họa 2

Những bài trích đăng sau đây chỉ với tinh thần học hỏi. Xin các bậc Thầy niệm tình bỏ qua. Trân trọng cám ơn

  • Tác giả : LÊ ANH MINH

Thư pháp  là nghệ thuật viết chữ của người Trung Quốc với các công cụ gọi là văn phòng tứ bảo (bút, nghiên, giấy, mực). Người Trung Quốc thường nói: «Học tập thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tính, đào dã tâm tình.»  (học tập thư pháp có thể tu thân dưỡng tính, uốn nắn tình cảm). Với quan niệm này, thư pháp cũng là Đạo (Thư pháp giả, Đạo dã) . Người Nhật từ thuở tiếp thu văn hóa Hán đã nhận ra giá trị cao nhã của thư pháp nên gọi tên là thư đạo  (shōdō). Không những thế, sự nghiên tập thư pháp từ đời Hán đến nay đã trở thành môn học hẳn hoi với đầy đủ cơ sở lý luận gọi là thư học .

Hệ văn tự xưa nhất của Trung Quốc:
giáp cốt văn 
, khắc trên mai rùa và xương thú

 

 

Thư pháp hay nghệ thuật viết chữ Hán được xem là một loại hình nghệ thuật rất cao. Khi văn tự Trung Quốc đầu tiên xuất hiện, nó đã mang màu sắc thần bí. Hệ văn tự sớm nhất được phát hiện cho đến nay là chữ giáp cốt (giáp cốt văn ) mà niên đại được xác định khoảng 1200 tcn. Giáp cốt  là nói gọn của quy giáp  (mai rùa và yếm rùa) và thú cốt  (xương thú). Ngoài ra còn có kim văn, tức là kiểu chữ được khắc trên đỉnh vạc và các tế khí  (dụng cụ cúng tế) bằng đồng. Giáp cốt văn dùng ghi chép trong việc bói toán như một công cụ giao tiếp với thế giới thần linh và các tổ tiên quá vãng. Tương truyền người tạo chữ Hán là Thương Hiệt .

Hán tự khởi nguyên là chữ tượng hình , nghĩa là mô phỏng hình dáng của vật thể trong thiên nhiên. Mặc dù về sau Hán tự đã tiến hoá đến chỗ tinh tế và có quy củ hơn nhưng dấu vết mối quan hệ giữa mặt chữ và hình dáng tượng trưng của vật thể vẫn còn sâu đậm. Dù chữ Hán được tạo theo quy tắc khác (như chỉ sự , hội ý , hình thanh , giả tá , chuyển chú ) thì ít nhất cũng có một yếu tố nào đó trong một chữ cũng gốc là tượng hình.

 

Các thư thể của chữ MINH :

 đại triện, tiểu triện, lệ, khải, hành, thảo
(thư pháp Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên)

 

 

Hán tự có 5 kiểu chữ (gọi là thư thể ) chính yếu: Triện thư  (gồm đại triện  tiểu triện ), lệ thư , khải thư , hành thư , và thảo thư . Khi Tần Thuỷ Hoàng Đế thống nhất Trung Quốc, một trong những sự kiện quan trọng nhất là vua sai thừa tướng Lý Tư  thống nhất văn tự, tức là thống nhất các chữ viết giữa các nước trước đó (đại triện) thành chữ tiểu triện ). Chữ lệ (lệ thư) là thư thể thông dụng trong công văn, và nó rất phổ biến giữa thế kỷ III và II tcn. Chữ khải (khải thư  hay chính thư ) là cải biên từ chữ lệ. Chữ khải cũng đã thành thục vào thế kỷ III cn. Đây là thư thể chính thức, chuẩn mực, dễ nhận biết, dễ đọc nhất, và vẫn là phổ thông nhất trong các thư thể hiện nay. Chữ hành (hành thư) là dạng viết nhanh của chữ khải, dùng trong các giấy tờ thân mật (như thư từ) và đề tranh. Nó thuần thục vào thế kỷ II cn. Mỗi chữ Hán có kết cấu riêng và số nét bút nhất định. Khi được viết nhanh chữ khải có thể giản lược đi một hai nét để tạo thành một thư thể gọi là hành-khải . Cũng tương tự như vậy, chữ hành sẽ biến thành hành-thảo . Tác phẩm thư pháp rất nổi tiếng Lan Đình Tập Tự  của Vương Hi Chi  đời Tấn là viết với chữ hành. Chữ thảo (thảo thư) là thư thể được viết nhanh nhất, bút pháp phóng khoáng. Có chữ Hán bình thường với khải thư thì phải viết rất nhiều nét nhưng với thảo thư thì có thể viết bằng một nét. Nhiều chữ có thể viết liên miên nối tiếp nhau chỉ bằng một nét, thí dụ như cuồng thảo  (chữ thảo viết điên cuồng) của Hoài Tố  (khoảng 730-780).  

thảo của Hoài Tố
thảo của Hoài Tố

 

 

Khoảng thế kỷ II và IV cn, nghệ thuật viết chữ được mệnh danh là thư pháp  hay thư đạo . Từ đó nó trở thành một bộ môn nghệ thuật tao nhã cao siêu của tao nhân mặc khách và một cao thủ về thư pháp thường được đánh giá là người trí thức có học vấn cao. Trong thời này có Vương Hi Chi (303-361) một đại quan cũng là một đại thư gia mà người đời tôn là «Thảo thánh» .

Một tác phẩm thư pháp là sự thể hiện giữa thư thể và cá tính cũng như năng lực sáng tạo của thư gia. Tôn Quá Đình  (648-703) – một thư gia cũng là nhà lý luận về thư pháp đời Đường – đã viết trong tác phẩm Thư phổ  của mình rằng khi Vương Hi Chi viết Lan Đình Tập Tự (lời tựa nhân dịp các văn hữu tụ tập ở Lan Đình) tâm trạng hân hoan và tư tưởng cao nhã của ông đã dâng trào và điều đó đã thể hiện qua mặc tích lâm li thông sướng của ông.

Thư pháp là một bộ môn nghệ thuật có qui tắc nghiêm nhặt mà một thư gia sau một thời gian dài khổ luyện mới có thể làm chủ được ngọn bút của mình. Nội dung và hình thức bức thư pháp (thí dụ: vuông, chữ nhật, tròn, mặt quạt, hoành phi, câu đối) cũng phải hoà hợp nhau để xác định bố cục và thư thể trong tác phẩm (gọi là chương pháp  ). Thư pháp tuân theo cách viết chữ Hán truyền thống (gọi là «thụ tả»  ): chữ viết thành cột từ trên xuống và từ phải sang trái. Đặc biệt là không được đánh dấu chấm phết để ngắt câu. Cách viết không chấm câu này y như trong sách cổ và được gọi là bạch văn.

 

 

Cách viết chữ theo cột (thụ tả  ) bắt nguồn từ việc viết chữ trên thẻ tre (trúc giản  ) hay thẻ gỗ (mộc giản  ). Những thẻ này được kết thành tấm (gần giống như các tấm mành trúc hiện nay) và được cuộn tròn thành bó. Khi viết, người ta cầm bó thẻ ở tay trái, còn tay phải thì viết trên thẻ từ trên xuống, xong một thẻ rồi thì kéo thẻ đó sang bên phải để viết tiếp trên thẻ kế cận. Viết lần lượt như thế cho đến hết bó thẻ. Cho nên chữ sách  (quyển sách, sách lược) viết với bộ trúc, bên dưới là chữ thúc  (bó lại, cột lại thành bó) viết lược một nét; ngụ ý nói sách vốn là những thẻ tre bó lại. Còn chữ sách  (cùng ý nghĩa với sách  ) gợi hình rất rõ bốn thẻ (tre hay gỗ) cột ngang ở giữa. Khi nghề dệt vải lụa phát triển, người ta còn viết chữ trên lụa (gọi là bạch thư ). Lụa được cuộn trên một trục; cách viết cũng giống như trên trúc giản và mộc giản. Cách viết như thế đã thành truyền thống và bất biến ngay cả khi người ta đã phát minh ra giấy. Khi văn hoá Hán và Hán tự  truyền sang Nhật Bản (gọi là Kanji), Hàn Quốc (gọi là Hanja), và Việt Nam, cách viết truyền thống theo cột đó ảnh hưởng đến cả hệ thống chữ Kana của Nhật, Hangǔl của Hàn Quốc, và chữ Nôm  của Việt Nam; và cách viết theo cột vẫn giữ nguyên mãi đến khi các nước này giao lưu văn hoá với các nước phương Tây thì họ mới bắt chước cách viết theo hàng ngang (từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, gọi là «hoành tả»  ) của phương Tây.

Sách 策 ngày xưa, gồm các thẻ tre (hay gỗ) kết lại. Điều này giải thích cách viết chữ Hán truyền thống (từ trên xuống dưới, từ phải sang trái)
Sách 策 ngày xưa, gồm các thẻ tre (hay gỗ) kết lại. Điều này giải thích cách viết chữ Hán truyền thống (từ trên xuống dưới, từ phải sang trái)

Theo Thư phổ của Tôn Quá Đình, bút pháp của một thư gia lão luyện có thể gợi ra khí lực trong thiên nhiên, chẳng hạn bút khí  của thư gia như thể «phi điểu xuất lâm, kinh xà nhập thảo»  (chim bay khỏi rừng, rắn sợ hãi chui vào cỏ) hay «phi hồng hí hải, vũ hạc du thiên» (hồng nhạn bay giỡn trên biển, chim hạc bay múa trên trời), v.v... Nét bút có khi nhẹ nhàng như «thiền dực» (cánh ve sầu), có khi rắn chắc như «trụy thạch» (đá rơi), v.v... Ngọn bút lướt đi nhẹ như gió xuân thổi trên ngọn cỏ, mà dừng lại thì nặng như thái sơn. Do đó một tác phẩm thư pháp chính là sự kết tinh của cá tính, sự tu dưỡng thi văn, tư tưởng, kỹ pháp, và khí lực của một thư gia.

Tiền xuất sư biểu (của Gia Cát Lượng) qua thư pháp hành thảo của Nhạc Phi đời Tống

Thư pháp của Mễ Phế (Mễ Phất) đời Tống
Thư pháp của Mễ Phế (Mễ Phất) đời Tống

Thư pháp là một trong những nghệ thuật xưa nhất của Trung Quốc. Khi hân thưởng một tác phẩm thư pháp, người sành điệu thưởng thức bút pháp và sự sáng tạo của tác giả thể hiện qua từng nét bút với tiết tấu nhanh chậm, với nét mực ướt đẫm lâm li hay xác xơ tiêu sái (phi bạch ), và với độ đậm nhạt của mặc tích cũng như sự tương phản giữa giấy trắng mực đen. Với sự am tường về chữ Hán, về tính cách ước lệ của thứ tự nét bút và số nét bút của từng chữ, người thưởng ngoạn sành điệu sẽ cảm thấy thân thiết với tác phẩm và tác giả, đó là một thứ cảm xúc mà những bộ môn nghệ thuật khác ít khi tạo được. Một đại thư gia đời Bắc Tống là Mễ Phất  (cũng đọc Mễ Phế, 1052-1107) đã mô tả sự ngây ngất đắm đuối của ông khi chiêm ngưỡng mặc tích của cổ nhân rằng: «Mỗi khi tôi trải một tác phẩm thư họa của cổ nhân ra mà ngắm, tôi ngây ngất đến độ sấm động bên tai cũng không hay, thức ăn thơm ngon ngào ngạt bên cạnh cũng không màng... Tôi ngờ rằng sau này khi tôi lìa đời hồn tôi sẽ biến thành con cá bạc nhập vào những bức thư họa mà tung tăng bơi lội trong đó.»

Thư pháp của Tô Thức (Tô Đông Pha) đời Tống
Thư pháp của Tô Thức (Tô Đông Pha) đời Tống

Kể từ thế kỷ III cn, những bộ sưu tập thư pháp thường dựa theo thư thể nhiều hơn là nội dung văn chương của tác phẩm. Cách phân loại tác phẩm thư pháp truyền thống này và sự nghiên tập từng trang mặc tích của cổ nhân đã dẫn đến sự biệt lập giữa nội dung và hình thức. Chính cái nét bút, kết cấu của chữ, và kỹ pháp của tác giả mới là đối tượng của sự thưởng ngoạn chứ không phải là nội dung của tác phẩm. Sự tái sắp đặt này bảo lưu được tính nghệ thuật, nhưng phần nội dung không mạch lạc ắt sẽ gây khó chịu cho các độc giả có khả năng đọc hiểu được văn bản chữ Hán.

Hình thức phổ biến nhất của thư pháp là đôi câu đối (đối liên) mà người Trung Quốc thường treo ở cổng nhà, bàn thờ gia tiên, phòng khách, cột nhà của họ. Câu đối có nhiều loại: câu đối ngày xuân gọi là xuân liên ; loại dán ở cửa gọi là môn liên ; loại dán ở cột gọi là doanh liên  (doanh là cột nhà lớn ở tiền sảnh). Vào dịp tết, những câu đối là những lời cầu chúc cát tường thể hiện khát vọng hạnh phúc của họ trong mùa xuân mới. Khát vọng đó sẽ tựu thành và phát triển giống như chồi non lộc mới trong tiết xuân sang.

Thế hệ nhà Nho tiền bối của Việt Nam có rất nhiều vị thư pháp rất đẹp như Phan Thanh Giản, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Long Cát, v.v... Nhưng giới nghiên cứu Hán Nôm chưa có ai quan tâm nghiên cứu về mảng thư pháp trong di sản Hán Nôm của tổ tiên để lại, thật là đáng tiếc.

 

Thư pháp là một đề tài rất rộng không thể nào gói ghém trong một hai trang giấy, thành thử bài viết này chỉ là tản mạn đôi nét khái quát về một môn nghệ thuật tao nhã của Trung Quốc mà thôi.

  • truredabuder

Bấm vào chữ bên dưới để xem trang WEB dành riêng cho :

 

HỘI HỌA


NHIẾP ẢNH

 




VIETNAM TIME

* Số lượng khách viếng trang Web từ tháng 6 năm 2011 đến nay.

 

* Visitors since June 2011

free counters

 

 

* Số lượng khách viếng trang Web từ 1 tháng 2 năm 2013 đến nay.

 

*Visitors since 1st February 2013

Flag Counter

Phone :

 

0903884387

Google search :

 

trancongquoi.com